Cát bụi đã về với cát bụi: Bốc mộ Ông tôi...

Primary tabs

Error message

Notice: Undefined index: localized_options in menu_navigation_links() (line 1872 of /home2/seaminhh/public_html/includes/menu.inc).

Thanh Minh 2016: Di Dời Mộ Ông Cố tôi*...
Tôi về Bình Minh một ngày trước ngày Thanh Minh năm nay, tức về ngày Chủ nhật 3/4/2016 để ngày Thanh Minh (Thứ Hai 4/4/2016) chứng kiến thợ bốc và chuyển mộ Ông Cố tôi (ông Trần Văn Song) về vị trí mới kề bên mộ Bà (Đinh Thị Bút).

Có vài lý do cho quyết định di dời mộ của Ông tôi. Số là Ông tôi mất đã trên trăm năm lúc còn trẻ, khi mất mới 31 tuổi (tuổi hưởng dương này ghi trên mộ của Ông, tôi không biết nguồn nào). Giả định bà sống đến 60 tuổi, thì ông cũng phải mất trước đó khoảng 30 năm trước năm Bà mất (1917), hay vào khoảng năm 1887). Lúc đó Ông bà còn ở chung với đất gia đình ba má bên bà, tức đất của gia đình bà Mạc Thị Nổi và ông Đinh Văn Núi, hoặc đất của ông bà ngoại (tức ông Mạc Văn Hậu). Khi ông tôi mất thì cũng được chôn ở đất gia đình này.

Sau này Bà tôi sau khi có cuộc sống ổn định hơn, đã mua lại phần đất của người em trai, là đất mà gia đình tôi hiện đang ở, cũng là đất hương hỏa. Khi bà mất, thì Bà cũng được chôn tại đất riêng này, cách mộ Ông bởi con sông Mỹ Thuận.

Khi còn nhỏ, tôi thường theo Ba tôi hoặc cùng anh em tôi sang quét mộ ông mỗi khi Tết đến. Chúng tôi dùng xuồng đi ngang sông, rồi lội bộ xuyên vườn thẳng ra sau là đến mộ. Đường chúng tôi đi là cặp bên hông nhà Út Cho, một gia đình trong mấy năm loạn lạc ở nhờ nhà đất anh Hai Đông, và sau này đã trả lại cho chủ để hồi hương về xứ nằm sâu ở ngọn sông này. Cặp đất anh Hai Đông là nhà dượng Bảy Kiến là khoảng đất gần như để cây cỏ mọc tự nhiên, chẳng ao rào rắp gì, nên việc đi lại không hề bị cản trở. Đấy là tình hình vài chục năm về trước (trước 1975).

Khoảng năm năm trước (2010), tôi có mầy mò ghi chép số liệu, tên tuổi để làm bộ gia phả cho gia đình mình. Tôi đi xem nhiều mộ, và có vài lần tôi nhờ em tôi (Thanh), hoặc anh tôi (anh Ân) dẫn đường viếng mộ của ông Cố. Khi đó tôi mới ngã ngữa ra là không còn con đường nào để ra mộ như xưa nữa. Đất cát đã được chia cho con cháu nhiều lần, và mỗi phần người ta rào rắp riêng ra, còn nhà thì chen chút nhau chứ không như xưa nữa. Chủ đất cũng chẳng biết mình là ai, cũng chẳng quan tâm mộ xa phía sau cách họ mấy chủ đất khác là mộ ai, nên không cho đi. Chỉ còn một đường duy nhất: đi vào rạch Đôi Ma chừng trăm mét, hỏi nhà người tên là Dượng Bảy Nhiên (hai ông bà năm nay 2016 có lẽ cũng trên tám mươi tuổi), xin đi nhờ bên hông nhà họ để ra sau thăm mộ. Lần đó dĩ nhiên tôi cũng phải đi đúng như thế. Dượng Bảy Nhiên dắt chúng tôi ra sau, chỉ ngôi mộ có tấn đá xanh xung quanh, nói, “Chà chẳng biết mộ ai nữa!” Khi đó, tôi giải thích đó là của ông Cố tôi, thì ông cũng gật gù, và tôi tin là ông cũng chẳng biết người ấy quan hệ thế nào với ông!

Sau lần đi đó, tôi đã một lần nói chắc tốt nhất là nên có kế hoạch dời mộ Ông đất nhà, một là để sau này con cháu tiện chăm nom, quét tước, và hai là không phải xin đi nhờ như một khách lạ xa chờ đợi lòng tốt của người khác. Lỡ mai kia, đến lớp con, hay cháu của Dượng Bảy Nhiên làm chủ đất này, lúc đó họ nói không được, thì cũng chịu thôi chứ biết làm sao!

Tôi có người em họ làm ăn thành đạt, nhiều năm qua thỉnh thoảng có về xem tu bổ mã mồ, khắc lại các mộ bia cho ông bà. Tôi đã nghe em và ba em, tức Chú Chín của tôi có ý muốn dời về phần đất gia đình, và chuyện này lại hoàn toàn đúng với điều mong muốn của tôi. Năm ngoái (2015) gặp thì em nói năm tới (tức năm nay) nhất định phải làm vào dịp Thanh Minh. Và vài hôm trước Thanh Minh, anh Ân tôi điện cho hay em họ tôi, Pauline, cho anh biết là sẽ dời mộ vào Thanh minh này.
Chuyến đi này của tôi có lý do ở đó.

Tham dự ngày bốc mộ

Chúng tôi cùng hẹn nhau có mặt tại mộ Ông vào sáng Thanh Minh lúc khoảng 8 giờ sáng.

Tôi đi cùng cháu tôi là Duy, đủng đỉnh ra ăn sáng tại cái quán chật ních khách, không hiểu vì ngon, hay vì rẻ, mặc dù đường vào cũng rất lắt léo (qua mấy lần ăn, tôi đã có cái suy nghĩ thế này: vì sao ta không chọn nghề bán quán để sống? Chỉ cần khách như quán này, đâu có gì cầu kỳ, khó khăn?)

Lúc dựng xe, chị Hương chở Pauline chạy ngang, Duy thấy liền kêu nhưng có lẽ do xe đi nhanh họ không nghe kịp.

Khi chúng tôi ăn xong thì đi vào bằng đường ngoài lộ xe, nơi tôi và anh Ân đã khảo sát lần về trước xem đường đi thế nào. Tôi cũng sẽ để xe hoặc gửi xe đâu đó ở lối của thợ bốc mộ, vì có tục cử mang xương cốt người chết đi ngang nhà ở người ta (!)

Khi tôi vào, thấy mấy thợ cũng lục đục tới, và họ chỉ đường cho tôi khi thấy tôi loay hoay tìm lối đi vào (phải lội xuyên qua bờ vườn thấp đầy gốc cỏ mà hôm trước tôi thấy họ vừa phát hoang. Mảnh vườn này hình như của con út dượng Bảy Nhiên, người này làm giám đốc cảng Vĩnh Thái. Miếng đất chưa được dùng đến, vì người này còn ở Vĩnh Long, có lẽ dùng nó làm thứ của để cho mai sau này. Một con của dượng Bảy Nhiên là bạn học tôi nói là miếng này mua sau này với giá 100 triệu đồng sau khi cầu CẦn Thơ làm xong. Bây giờ giá đã khác rồi, vì phần mặt tiền ra quốc lộ có bề ngang khá lớn.

Pauline và vợ Charlot (con lớn của Chú Chín, đã mất) cùng Pauline đã đến trước. Khi tôi vào thì thấy chú Chín cũng đang tìm đường vào (chú từ Vĩnh Long đi xe buýt sang, gặp anh Thành đầu đường chở chú vào). Thạnh đã chạy xe Honda sang. Trễ hơn có anh Hưởng (con Cô Năm) được Nga chở bằng xe hai bán sang, do anh không rành đường đi. Đến chiều khi đã xong phần lấy cốt còn có anh Nam ghé nhà do được tin anh Thành nhắn).

Phần cúng kiếng, lễ nghi do chị Hương phụ trách (do chị đi tu và nhiều lần làm các thủ tục lễ nghi này nên Pauline nhờ chị làm).

Cuối cùng cũng nhắc là chiếu tối hôm trước, Paul, con út của Chú, cùng vợ có sang nhà đốt nhang, và chúng tôi cũng bày bàn để anh em hàn huyên sau đó. (Paul và vợ đều phải về Vĩnh Long tối đó).

Đấy là những người trong thân tộc có mặt ở lễ bốc mộ ông của mình. Cánh thợ khoảng 5-6 người do anh Thành thuê vì anh biết họ.

 

Bản đồ đường chuyển mộ về đất gia đình: Có 2 phần: phần hài cốt thì chuyển ngay trong ngày chỉ sau sau mấy giờ đào mộ cũ, còn phần đá xanh tấn mộ (rất nặng) thì phải chuyển dần ra lộ xe, rồi dùng xe tải nhỏ tải ra con đường phía sau đất gia đình, xong lại phải chuyển thủ công về vị trí. Phần này thợ làm mấy ngày sau mới xong.

Hai lần tu bổ
Năm 1964 căn nhà vách gỗ, lợp ngói của gia đình đã rệu ra, chực sập mỗi khi có gió to, nên phải xây lại. Làm nhà xong, Bà nội tôi đã cho làm lại mấy ngôi mộ cũ, cũng trong tình trạng xêu vẹo các cọc đá, thanh tấn quanh mộ, hay những bia đá thạch anh nặng trĩu dựng trên đất. Lần tu bổ đầu này được làm năm năm 1965 và được ghi lại ở bia xi măng của ông Cố tôi. Lúc đó anh Năm Lân đã làm các mộ này lại. Trước lần tu bổ này thì cả mộ Ông và Bà đều không xây núm mộ, chỉ tấn bốn thanh đá xanh bao quanh phần mộ (riêng của Bà thì dùng tới hai lần thành đá xanh này), và để đất bằng phía trên.

Trước khi tu bổ, lau sậy và các cây nhỏ mọc um  tùm, mỗi năm khi cần dọn, quét mồ mã trước tết phải dành cả nửa ngày cho một ngôi mộ để phá các cây cỏ này rồi quét dọn cho sạch lại, với đầy đủ dụng cụ như dao phai, búa, phảng… Thuở nhỏ anh em tôi đã nhiều lần theo cha tôi đi quét mộ như thế mỗi độ xuân về. Có lẽ chính đó là lí do của lần tu bổ đầu.

Lần tu bổ thứ hai được thực hiện năm 2009, tôi hoàn toàn không biết, chỉ thấy sau khi viếng mộ sau này, thấy ngày tháng được ghi lại trên các mộ bia, cũng mới được dựng lại, hoặc bổ sung thêm. Lần này do em họ tôi đã thực hiện cho nhiều ngôi mộ, kể cả mộ ông Cố này. Ngoài việc chỉnh cho ngay ngắn các cọc đá, thanh đá và cố định lại bằng xi măng. Trên mộ ông Cố tôi, có tấm bia bằng đá khắc chữ:

ÔNG TRẦN VĂN SONG
SINH NĂM…
MẤT 11 THÁNG 3 AL
HƯỞNG 31 TUỔI
Cháu lập mộ 2009

Bia  này được đặt lên trên những dòng chữ viết thẳng lên bia bằng xi măng của lần tu bổ 1965.

Ông tôi sinh, mất năm nào?

Rất nhiều người mất vào những năm đầu thế kỷ 20 mà tôi thấy qua bia mộ, hoặc khi hỏi han thiếu hầu hết thông tin năm sinh, năm mất. Như ta biết mặc dù lúc đó tổ chức hành chánh của Tây đã hoàn chỉnh, nhưng những người đã sinh ra lớn lên giai đoạn này không phải ai cũng có giấy tờ với năm sinh, năm mất rõ ràng, có lẽ là di sản của cách quản lý thời phong kiến. Lúc cần phải làm giấy tờ, thì họ phiên ra từ hệ tuổi tính theo âm lịch sang năm dương lịch rồi gán cho năm sinh, hoặc tính ra tuổi tác; và ngày tháng sinh chỉ là điều khó có: trăm người chưa chắc có người đã được ghi. Điều này chắc chắn là phổ biến trong miền Nam, vì ai trong số những lưu dân lúc đó biết đọc, viết? Và bao nhiêu người biết viết chữ Nho, bao nhiêu người biết Quốc ngữ? Và có bao nhiêu người có số sách ghi chép những thông tin cá nhân như ngày sinh, năm mất của người thân trong gia đình, một dạng thô sơ của gia phả?

Vậy thiểu số may mắn hơn là những trường hợp những người có các giấy tờ cá nhân đầy đủ, hay có ghi chép lại. Cho dù như thế, những giấy tờ ghi chép đó đã  phải trãi qua nhiều thử thách: các cuộc chiến tranh bình định của giặc Pháp, những cuộc chiến cục bộ như Cao Đài, Hòa Hảo nổi lên như nấm trước thời kỳ ông Diệm mới chấp chình đến khi bình định hoàn toàn. Vượt qua được các mốc này, thì lại đến mốc chiến tranh khốc liệt Nam - Bắc giữa chính quyền Sài Gòn và Việt Cộng, kéo dài đến năm 1975. Nói tóm lại, có quá nhiều lý do xảy ra làm cho các giấy tờ cá nhân không còn, ấy là chưa nói đến hệ thống lưu trữ quá tồi, được quản lý bởi những người kém trách nhiệm, hay không ý thức, thậm chí còn cố tình hủy hoại các tài liệu đó đi để hưởng lợi gì đó.

Trường hợp các ông bà tổ tiên của tôi cũng nằm trong phần những người không lưu giữ được chút gì về các thông tin này. Và mộ ông tôi ở trong trường hợp tương tự.

Thử tìm năm sinh, mất của ông tôi
Tôi vẫn thấy còn thiếu sót nhiều chi tiết nếu con cháu vẫn để chỗ trống về năm sinh, mất ở các mộ bia của ông bà như ở bia này, nhưng không thấy có cách hay cơ sở nào để có thể rút ra thông tin bổ sung vào những chỗ thiếu đó. Hơn một lần tôi đã thử tra các giấy tờ còn lưu được đến giờ, không chỗ nào đề cập đến tuổi tác, năm mất của ông. Vậy ta thử tra tìm từ các số liệu có từ các con của ông.

a. Tuổi của các anh em ông Nội tôi.
Trong một giấy tờ chia gia sản của năm anh em của ông làm năm 1919, thấy chỉ ghi thông tin đơn giản là do cha mẹ của năm anh em đã qua đời, nên anh em (kể tên từng người, có nêu tuổi) thống nhất nhau chia phần đất của hai ông bà đó cho năm anh em mình. Với thông tin này, tôi xin ghi lại năm sinh của năm anh em ông Nội tôi (trong ngoặc là thứ theo cách người miền Nam, tức bắt đầu là thứ Hai):

Trần Văn Chắt- 46 tuổi (2)
Trần Thị Tý- 44 (3)
Trần Thị Cam- 36 (4)
Trần Hữu Vị- 34 (5)
Trần Văn Nhạt- 30 (6)
Vậy năm sinh của năm anh em là: 1873, 1875, 1883,1885,1889.

Do có thông tin ông Nội tôi tuổi Canh Dần, nên năm đúng phải là 1890 và mất 1937 (mùng 10 tháng 10 AL, tức thứ Sáu, 12/11/1937). Các thông tin này đã ghi trên bia mộ lần tu bổ 2009. Trong lần rồi về nghe anh Ba tôi và Má tôi nói chuyện, Bà có nói ông Nội tôi tuổi Dần. Vì cách tích tuổi theo Việt Nam (tuổi âm lịch) và dương lịch thường đưa đến kết quả hơi khác, nên khi nói 30 tuổi năm 1919, có nghĩa là 29 tuổi theo Dương lịch. Và điều này đúng trong trường hợp ông Nội tôi.

Nếu áp dụng cho cùng nguyên tắc (tuổi trên giấy chia gia sản 1919 là tuổi tính theo âm lịch), thì năm sinh thật sự của năm anh em sẽ là 1874, 1876, 1884, 1886 và 1890.

b.1 Tuổi ông Cố tôi căn cứ vào khoảng cách 5 người con
Từ thông tin về năm sinh con đầu và con út của ông Cố tôi, khoảng của người thứ hai và thứ sáu là 1890-1874=16 năm. Do ông mất năm 31 tuổi, vậy khi sinh con đầu chẳng lẽ ông mới 15 tuổi? Điều này là không hợp lý, mặc dù có thể có nạn tảo hôn vào thời kỳ đó. Từ điểm không hợp lý này, tôi nghĩ rằng ông Cố tôi mất trước khi con út ra đời, tức trước 1890, nhưng không xa lắm, để có thể vẫn có được con út. Có nghĩa là ông phải mất năm 1889. Và như vậy năm sinh phái là 1858.

[Có hai điểm nghi ngờ cho lập luận trên. Thứ nhất, nếu tính như vừa nói, thì ông vẫn lấy vợ lúc sớm quá (16 tuổi), trong khi theo một chuyện kể tôi nghe được, trước khi về xứ này sinh sống và lấy vợ, ông từng làm quan chức nhỏ phụ trách thu thuế ở làng nào đó ở Sa Đéc, và do thâm lạm tiền công, ông bỏ xứ ra đi. Viên chức dù nhỏ nhưng chắc cũng phải đã trưởng thành mới làm việc, nghĩa là khi sang quê này, ông phải 18 tuổi trở lên. Điều này là trái với suy luận về tuổi ở trên. Thứ hai, tôi vẫn không nghĩ là ông lấy vợ vào lúc 16 tuổi. Lý do là vì ông là người tha hương đến đây, người ta làm sao có thể tin tưởng để gả con cho một người con non nớt, không cha mẹ, không  thân thuộc tại xứ này? Tôi giả định là ông đi làm công cho gia đình bên vợ trước khi có thể lấy bà, thì thời gian ấy chắc không phải chỉ vài tháng mà họ mến tính tình như siêng năng chẳng hạn, để gả con gái cho!]

b.2 Tuổi ông tôi tính từ tuổi của bà

Bà Cố tôi có đến chín anh em, từ người thứ hai đến thứ mười. Trong mười người này, trên mộ của người em thứ 10 có ghi năm sinh, năm mất. Dựa vào số liệu này, tôi đoán ngược lại năm sinh của Bà tôi. (vạn bất đắc dĩ, xem như thời gian sinh, mất này tương đối gần đúng).

Trên bia mộ ông Đinh Văn Tùng ghi sinh năm 1862, và mất năm 1926. Bà tôi là chị thứ 8, và nếu cho khoảng cách giữa anh em trung bình là 2 năm, thì Bà có thể sinh vào năm 1858. Theo cách này thì khi sinh con đầu năm 1874 bà chỉ mới 16 tuổi (là điều không hợp lý lắm), và con thứ 5 vào năm 1890, lúc 32 tuổi. Do ông mất năm 31 tuổi, nên việc áp dụng câu "nhất gái hơn 2, nhì trai hơn 1" đều dẫn đến bất hợp lý ở đây. Chỉ có thể họ bằng tuổi nhau, và ông mất năm bà vừa mang thai con cuối cùng, năm 1889. Và năm sinh của ông dựa vào cách tính này là 1889-31=1858, tức cùng năm sinh của bà.

Năm sinh, mất trên đây đều căn cứ trên một sự kiện quan trọng: ông mất năm 31 tuổi. Nếu căn cứ này là không đúng, mọi suy đoán trên cũng sẽ sai!

Tóm lại, theo 2 cách tính trên tuổi của ông và bà là

       SinhMất Hưởng dương
1858191759
Ông1858188931




 

 

Sự rối rắm các số liệu
Tại tờ chia ruộng đất làm năm 1919, ghi ông Tùng là trưởng tộc chứng kiến cho việc phân chia tài sản của mấy cháu. Trên văn bản này ghi ông đã 53 t.
Theo chứng cứ này thì ông phải sinh năm 1919-53=1866 (!); so năm sinh ghi trên mộ (1862) thì sai lệch đến 4 tuổi. Tôi đành theo năm sinh trên mộ, vì chắc mộ do gia đình lập, họ hẳn phải căn cứ trên tài liệu khả tín nào đó để ghi, mặc dù biết rằng văn bản trong tay tôi là giấy tờ chính thức của nền hành chánh cũ của thuộc địa Nam kỳ.

Trường hợp thứ hai là ông Năm Trần Hữu Vị, trên mộ bia ghi năm sinh là 1885 và mất là 1926. Năm sinh này đúng theo cách tính ghi trên tờ chia gia sản năm 1919 (căn cứ trên tuổi tính theo âm lịch). Nếu tính theo cách tính tôi dùng cho ông Nội tôi, thì ông phải sinh năm 1886! Tôi đành cho là có lẽ gia đình của ông còn giữ lại tờ chia gia sản tương tự tờ của gia đình tôi đang giữ nên đã dùng số liệu đó tính ra năm sinh ghi trên mộ.

Tóm tắt lại, với vai vế là cháu bốn đời, tôi đã về chứng kiến cảnh bốc mộ, xem từ nhát xẻng đầu tiên phá lớp xi măng trên thanh đá xanh, đào bỏ nhiều lớp đất, rồi đến việc xắn vỡ lớp vỏ hòm dày đến 5cm phía bên hông phải đến đủ rộng để hồi hộp chứng kiến cảnh hai người thợ bốc mộ mò trong lớp bùn tìm xương cốt, và nghe họ nói là “Không còn gì cả?” ở những phút đầu để chút sau họ vui mừng lần lượt mò được từng khúc xương, mà họ cho là xương chân, hai khúc ngắn hơn, không biết là xương tay hay chân (?), một số khớp xương, có lẽ là xương đùi, một mảnh dẹp đường kính còn chừng hơn 3 cm mà họ gọi là của hộp sọ, một bên xương hàm, với cái răng còn dính, và một cái răng đã rời ra…

Cát bụi về với cát bụi, những đoạn xương đem lên mau chóng bở đi trông thấy, con cháu (anh Thành và một thợ) phải nhẹ nhàng rửa qua lượt đầu bằng rượu, rồi lần thứ hai cũng bằng rượu, trước khi nhẹ nhàng đặt vào tấm vải đỏ, gói lại và cho vào cái hòm nhỏ bằng đá, rồi đậy nắm và và dán băng keo trong lại mang về nơi mộ mới của ông nằm gần bên bà, và phía trái, theo câu cửa miệng, “'nam tả, nữ hữu” để tiếp tục yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng!

Vâng, vì thiếu thông tin nên xin được phép ghi năm sinh, năm mất của ông theo cách tính như đã nói ở trên, là:

ÔNG TRẦN (NGUYỄN) VĂN SONG
SINH NĂM : 1858
MẤT NGÀY 11 THÁNG 3 NĂM KỶ SỬU 1889
HƯỞNG DƯƠNG 31 TUỔI
CHÁU LẬP MỘ


* Ghi chú: Trong gia đình tôi và vùng lân cận, để chỉ ông bà là ba má của ông nội (tổ 3 đời), vùng tôi gọi là Ông/ Bà Cóc. Đây là từ hoàn toàn mang tính địa phương, và có phạm vi sử dụng nhỏ, nên tôi dùng từ đúng lại là Ông Cố, như đa số các vùng khác vẫn dùng để gọi tổ ba detran.
 

Undefined

Location

Vietnam
10° 4' 35.3316" N, 105° 49' 43.8348" E
VN