My Cousin Hai Mén

Primary tabs

Error message

Notice: Undefined index: localized_options in menu_navigation_links() (line 1872 of /home2/seaminhh/public_html/includes/menu.inc).

This is an account of my trip to Vi Thanh (Hau Giang Province) to visit Mr. Hai Mén. This man is the son of my grand grand uncle who I have never met for many years since he lives far from my home and seldom he goes back to this place. The trip was carried with the guide of my niece, Tran Khang Duy, son of my elder brother, Mr. Ân.


CÙNG DUY ĐI CÁI TẮC

Bạn không thể chạy nhanh được ở quốc lộ 1A khu vực miền Tây này. Có nhiều lí do, mà lí do quan trọng nhất là cái quốc lộ này đã trở thành chật ních so với lượng xe khổng lồ hiện có (cho dù là xe 2 bánh hay kể cả người đi bộ, con nít và cả thói quen giỡn hớt, đi lại và thậm chí ngôi chơi buổi chiều ở hai bên lề đường). Lí do thứ hai là hạn chế tốc độ theo luật lệ hiện hành đã làm bạn chậm lại: tôi thấy các địa phương hầu như muốn lên tiếng báo rằng thị xã hay thị trấn của mình là to lắm bằng cách cắm các bảng ra/vào nội ô nhích xa ra khỏi khu thị trấn nhiều hơn, thậm chí có những nơi theo giới hạn đó là nội ô nhưng chỉ thấy toàn cỏ dại và lau sậy bên đường!. Và khổ thay tại miền Tây này từ tỉnh lị, huyện lị, thậm chí đến xã nữa, cũng đa số đều ôm hai bên đường quốc lộ, làm bạn liên tục vào và ra khu nội ô, nghĩa là hạn chế tốc độ liên tục, làm hành trình trở thành cơn ác mộng của giảm và tăng tốc độ, nơm nớp sợ bị phạt vì những anh công an giao thông rình rập chờ cơ hội đãng trí không xem đồng hồ tốc độ và lỡ xe nhích lên khỏi tốc độ qui định là thổi còi để hạch sách đủ điều, thậm chí lấy cả giấy tờ, giam xe nữa! Chứng nào đi hàng mấy trăm cây số xa lộ với ý nghĩa đúng là đi đường như ở châu Âu (không có nhà cửa ôm hai bên lề đường, không người giỡn hớt đi bộ ở xa lộ, không ường cắt ngang vì tất cả đã dùng cầu vượt?)

Và tôi than thầm khi thấy mình đã cố gắng chạy cho kịp giờ hẹn mà khi đến nơi (ngã ba Cái Tắc) cũng sắp sửa 5 giờ chiều, nghĩa là trễ giờ. Tôi gặp Duy đứng chờ tôi tại cổng chào vào Vị Thanh (tức tỉnh Hậu Giang mới). Khi hỏi nó có phải đường vào đấy chỉ khoảng hơn 20 cây số không? Nó ngạc nhiên, trả lời là hơn 40 cây số chứ! Tôi than thầm, đã 5 giờ đến nơi rồi mới đi thế này thì lúc quay ra trời tối rồi còn gì! Dù nghĩ thế nhưng chúng tôi vẫn cứ đi. Có những công việc không thể bỏ qua, huống chi tôi đã lên kế hoạch rồi.

Gọi là đường vào tỉnh nhưng đường Vị Thanh giống như đường vào vùng quê, nhỏ hẹp và đông đúc dân cư (điều này thì miền Tây này ở đâu chẳng thế?). Lượng xe hai bánh chạy nhiều làm tốc độ chạy của bạn cũng bị hạn chế. Khoảng 1 giờ sau chúng tôi có mặt ở Vị Thanh, và Duy quẹo trái để sang khu Hồ Sen. Tôi loáng thoáng thấy có cái chùa hay đình gì đấy, khá to trước khi quẹo, nhưng thời gian không còn để tôi có thể làm khách nhàn du thưởng ngoạn nữa, mà tập trung chủ yếu vào việc làm sao tìm và đến nơi cần đến kẻo mục đích chuyến đi thành công cốc thì uổng phí lắm!

Duy đảo một vòng phía sau bờ hồ, nơi tiếp giáp con rạch nhỏ thì nó nói là phía bên kia rạch là nhà người cần tìm. Bây giờ mình phải hỏi lối đi sang đó (chúng tôi không thấy chiếc cầu nào để đi ngang tại chỗ mình quan sát). Sau khi hỏi, chúng tôi vòng trở ra, quay ngược lại rồi quẹo phải để theo một chiếu cầu xi măng bề ngang có lẽ khoảng 2 mét. Phía bên kia là đường nông thôn tráng xi măng rộng khoảng hơn một thước là nhiều. Sau khi qua cầu, chúng tôi quẹo phải cặp con kênh đi tới đến khoảng hồ sen phía trước thì tìm nhà để hỏi. Chúng tôi ghé nhà đầu tiên, nơi có người đán ông đứng tuổi (chắc trạc tuổi tôi- trên 50) thì hỏi nhà ông Hai Mén (Hai Mén là tên mà Duy đã điện thoại hỏi Bà Nội tôi). Ông ta không biết. Người vợ thấy có người lạ ghé cũng ra xem, và hỏi chi tiết thêm về người này, chẳng hạn như nghề nghiệp, anh em v.v… Chúng tôi đều trả lời không biết, vì đây là người bà con đã lâu lắm không gặp, và chúng tôi thì lại lần đầu đến đây từ xứ khác là Vĩnh Long sang, nên không rõ lắm. Duy cố nhớ lại những chỉ dẫn xưa kia khoảng 4-5 năm trước khi nó gặp người bốc mộ và được chỉ dẫn cách đi. Nó bỗng nhớ ra cái tên đại loại như Hai Lá Dứa (bán lá dứa làm bánh) hay đại loại như thế. Cái tên cúng cơm thế mà hay! Người đàn bà ngờ ngợ có người như thế, mà nếu đúng, thì con ông ta có 2 đứa, một ở phải chúng tôi, chỉ cần đi đến vài chục thước rồi quẹo trái, vào vừa qua cầu xi măng là đến. Người kia cũng gần đó, chỉ cần quày trờ ra khoảng 10  mét (bà chỉ tay đến chỗ đó), chỗ gốc me kia, nơi có cái hẽm nhỏ, cứ đi vào chút xíu là tới nhà người con của ông ta. Nếu đúng người tìm là ba người này, thì anh ta biết ngay!

Anh Hai Mén

Sơ lược các đường đã đi qua để tìm nhà Hai Mén:
1. màu cam: từ đường xe quẹo vào khu Hồ Sen
2. màu tím: quay ngược lại vòng ra phía sau hồ nơi giáp con kênh nhỏ tìm đường sang phí bờ nhưng không thấy phải hỏi đường 1 thanh niên đang chở con đi dạo ở đó
3. đường nâu: được chỉ đường chúng tôi quay lại đi vào khu dân cư sau hồ. Hỏi nhà đầu tiên. Quay lại vài mét vào hẻm gặp con anh Hai Mén
4. màu tím sặm:  chở con anh Hai Mén vòng lại nhà anh Hai Mén
(Ảnh Google Map)

Chúng tôi đi theo hướng chỉ trở ngược ra chừng hơn 10 mét, rẻ vào hẽm.  Vì không  biết tên anh ta, chúng tôi ghé vào nhà thứ hai củng một con hẽm cắt ngang hẽm vào về phải và hỏi một trung niên đang ngồi làm gì đó ở sân chật hẹp. Chúng tôi hỏi nhà con ông Hai Mén ỏ đâu nhờ chỉ dùm. Người thanh niên khoảng dưới 40 tuổi lấy làm lạ lẫm với cái tên chúng tôi hỏi (con ông Hai Lá Dứa), và chỉ về nhà phía trong chút xíu để chúng tôi hỏi thêm, may ra nhà đó biết, vì hình như ba má ông ấy có bán trầu cau gì đó ở chợ chứ không phải lá dứa!

Chúng tôi đi đến nhà theo lời chỉ dẫn, cách đó ba bốn căn nhưng của đoạn hẽm thẳng vào trong. Duy lại hỏi tương tự. Người đàn ông  đứng tuổi (có lẽ khoảng tuổi tôi) mặt có vẻ ngờ ngợ điều gì, hỏi chúng tôi tìm có chuyện gì không. Chúng tôi trả lời là chúng tôi là bà con từ Bình Minh tỉnh Vĩnh Long qua, muốn tìm gặp chơi để biết chứ không có chuyện gì khác. Anh ta nhanh nhẩu bảo đúng rồi; và nói chờ anh ta mặc áo để dẫn chúng tôi sang nhà ba anh ta.

ANH HAI MÉN

Chúng tôi chạy vòng lại như lời chỉ đường ban đầu của người khách chúng tôi đã ghé để hỏi đường. Khi vừa qua cây cầu xi măng, người con của anh Hai Mén chỉ vào căn nhà xây lợp tôle sát cầu. Chúng tôi quẹo xe vào sân. Con anh Hai nói sơ qua có người bà con muốn ghé thăm và hỏi chuyện. Tôi loay hoay lục lấy giấy bút, nhằm tranh thủ ghi nhanh những gì cần thiết hỏi han được về người anh họ gần này cũng như con cái của anh.

Anh Hai Mén (người già nhất) và hai con anh (ngoài cùng)

Gọi là anh Hai Mén là theo thứ tự trong họ tộc, chứ kỳ thực anh Hai Mén lớn hơn Ba tôi mấy tuổi (sinh năm 1924, trong khi Ba tôi sinh 1929), và năm nay đã 85 tuổi. Anh nhỏ con, ốm, tóc đã bạc trăng. Tuổi già đã lấy đi cái nhanh nhẹn mà thằng cháu (Duy) còn nhớ về ông khoảng 5 năm trước, khi đó ông là người phụ trách nhóm đi di dời hài cốt của Ba anh đi nơi khác. Duy nói lúc đó nó thấy ông già này hãy còn nhanh nhẹn. Chính ông đã chỉ đường đi đến nhà ông, với đặc điểm dễ nhận biết là căn nhà nằm bên kia con rạch nhỏ sau ao sen lớn và với cái tên cúng cơm là Hai Lá Dứa (hay đại loại như thế). Chính cái tên Lá Dứa này đã giúp chúng tôi tìm ra nhà anh chóng vánh như đã nói ở phần trên.

Khi nhắc đến tôi là con Bảy Cẩn, ông biết ngay và bảo Bảy Cẩn là chú anh. Tôi tranh thủ hỏi ngay, từ Ông Ba đến ba anh, rồi anh em của ông, và con cái. Tuổi già đã làm trí nhớ giảm, anh kể không còn mạch lạc nữa, ngay cả anh em của ông, con cái của ông. Nhiều lần, các con anh phải đỡ lời của bố, kể cho chúng tôi các tên tuổi, nhất là phần anh em của họ. Chúng tôi ghi nhanh những gì có thể hỏi được.  Khi sắp về, Duy bỗng nhiên hỏi chị Nết. Tôi ngạc nhiên, chính tôi không biết con Bác Ba nghĩa, chị Nết, đã từng làm việc và lập nghiệp tại Vị Thanh này (chị là công chức ở chế độ cũ tại tỉnh này). Các con của anh Hai cho biết mồ chị Nết ở gần nhà anh Hai Mén. Thời gian đã muộn, chúng tôi vì gấp và vì lúc đó chưa biêt câu chuyện chị đã lập nghiệp tại đây nên tôi đã nhanh chóng giả từ và bảo cháu tôi lên đường về kẻo trời tối khó chạy. Sự đời nhiều khi xảy ra ngoài dự đoán của ta, nhưng cũng có khi đấy là cơ duyên cho một điều tốt lành ta chưa từng nghĩ tới. Mặc dù chưa bao giờ biết chuyện chị Nết sông tại đây nhưng qua chuyện Duy hỏi chứng tỏ nó đã được ai mách bảo chuyện này, và người đó chắc chắn không ai ngoài Má tôi. Cơ duyên này tôi sẽ trình bày lại ở đoạn sau.

Trước khi ra về tôi xin phép chụp chung tấm hình với anh Hai Mén và mấy cháu (con của anh). Trời đã sắp tối, nhìn ánh sáng đã yếu tôi ngại hình sẽ không đủ sáng. Duy chụp xong kiểm tra thấy không đến nỗi, thế là tốt  rồi. Tôi cũng đã mở bộ định vị GPS của máy, như vậy hình ấy đã có thông số về tọa độ ngôi nhà anh Hai, sẽ giúp tôi xác định dễ dàng sau này nhà anh, cho dù tôi không còn nhớ tên địa chỉ của nhà anh đi nữa.

SAO LẠI Ở TẠI VỊ THANH?

Khi nghe qua việc con cháu của Ô. Ba Chắt lại ở Vị Thanh, tôi đã lấy làm ngạc nhiên không hiểu cơ duyên nào đưa đẩy họ đến đây. Thắc mắc này tôi chưa hỏi ra, nhưng đã thấy đây cũng là điều sẽ phải tìm hiểu đến khi có dịp thích hợp.

Sau này (xem đoạn sau) tôi mới biết chuyện Hai Mén và chị Nết (con Bác Ba Nghĩa) do Má tôi kể.

Thì ra, khi còn làm việc tại Vị Thanh, chị Nết đã là người năng nỗ làm ăn. Chị đã có nhà máy, mua ruộng đất. Chị lập gia đình với một người là thợ mộc, người hết sức đàng hoàng và biết điều (đấy, lời khen của má tôi dành cho anh). Sau này khi đã khá, anh chuyển sang làm thầu xây dựng. Sau giải phóng anh bị tai nạn xe cộ mất ở gần trường Đại học Cần Thơ. Còn chị Nết cũng đã mất. Họ vẫn còn con cháu đang sinh sống tại Vị Thanh.

Chính chị đã nhờ anh Hai Mén từ quê Bình Minh (lúc đó anh ở Tầm Vu thuộc Bình Minh) về  Vị Thanh để coi sóc đất đai mà chị mua được ở Vị Thanh. Lúc đó anh Hai Mén mới dẫn dắt cả gia đình đến lập nghiệp tại đất này. Họ chắc cũng chỉ đủ ăn. Chị gái sau này (sau giải phóng?) có nghề buôn bán trầu cau, lá dứa, tức buôn bán lặt vặt. Nhưng chính đặc điểm này mà mọi người trong xóm anh Hai đều biết bà Hai trầu cau (Hai Lá Dứa) này.


Như vậy tôi đã tìm ra được cháu đích tôn của người ông thứ Ba, các anh em con ông Ba, anh Hai Mén và các con anh. Các thông tin này sẽ bổ sung thêm vào gia phả khá nhiều điểm.

XA GẦN MÁU MỦ

Tôi về đến nhà Bình Minh thì đã hơn 8 giờ đêm. Do có báo trước nên anh em tôi đang quây quần bên bàn uống bia. Ngoài anh Tư Ân, tôi thấy có em tôi, Thạnh, Thanh, Tèo. Thanh mua bia Sài gòn, và mấy chiếc nem, vịt quay, còn Má tôi có lẽ đã làm con gà luộc cháo. Tôi ngồi kể lại chuyện đi nhà anh Hai Mén cho anh em nghe chơi, nhưng qua câu chuyện  kể, tôi vẫn thỉnh thoảng nhắc lại thắc mắc, bây giờ chuyện đi Vị Thanh của anh Hai Mén không còn nữa, thì đến chuyện vì sao gia đình chúng tôi rất ít biết người ông thứ Ba. Phải có một lí do nào đó, một giận hờn, hiềm khích nào đó mới làm cho con cháu không đến với nhau (nhà tôi hưởng đất hương hỏa, nghĩa là phải thờ cúng ông bà chung. Vậy mà từ  nhỏ đến giờ tôi không hề biết những người thuộc nhánh Ông Ba đến đám giỗ bao giờ.

Chúng tôi còn nói nhiều chuyện khác nữa xung quanh chuyện ông bà họ Đinh với mã mồ, thờ cúng (cô Tám Trắng đang cúng giỗ của ông tổ Trần Văn Núi), và đại loại những chuyện không đầu đuôi nhưng cũng xoay quanh các bà con họ hàng xa gần của tôi- tức mối quan tâm của tôi hiện giờ là truy tìm những mối quan hệ đó để biên soạn quyển gia phải cho gia đình.

Sáng hôm sau tôi thức sớm, và mở laptop ra nhập những ghi chép từ anh Hai Mén vào chương trình gia phả tôi đang biên soạn. Vì chỉ có một số người nên việc nhập cũng nhanh, nên tôi làm xong sớm. Sau khi rửa mặt, cũng vẫn còn sớm quá (tôi không tập thể dục như mọi ngày nên thời gian dư ra), bèn lấy máy ra xem tới lui cái công trình “gia phả” của mình. Tôi kiểm tra tới lui, thấy vẫn còn nhiều chuyện phải hỏi, phải làm quá. Về họ Đinh, cần biên tập lại hệ thống hơn các anh em của bà Cóc tôi (tức bà Cố theo cách gọi nơi khác). Cũng cần có thời gian xem qua khu mã “cổ” nghe nói bằng đá ong, vẫn còn sau nhà chị Hai Đông, ngang sông hơi xéo nhà tôi. Nơi đấy là những mồ mã của ba và má của Bà Cố Đinh Thị Bút của tôi. Rồi còn họ Mạc, là họ của Má của Bà cố tôi nữa. Họ nhà cửa ở đâu, hiện con cháu là ai, ai thờ? Rồi những người “bà con” mà từ nhỏ tôi vẫn thường được nghe nói, nhưng chưa bao giờ hiểu được mối quan hệ như thế nào. Đó là những người một số đã khuất như Ba Diệp, Tư Giác. Đó là ông Ba Tây (mà con hiện còn là Tư Mịnh và Sáu Thàn). Những người này còn cần phải mât nhiều thời gian để hỏi han thêm, vì qua những ghi chép cho đến giờ vẫn chưa lần ra manh mối gì.

Cơn mưa buổi sáng đến, và trong lúc nhàn nhã ngày chủ Nhật (anh tư Ân cũng đang làm việc ở Cần Thơ và hôm nay cũng là ngày nghỉ, em Thanh tôi thì từ công trình ở Tiền Giang đổ về chơi), chúng tôi tập trung qua nhà anh Tư Ân uống cà phê. Các đề tài bà con vẫn được tiếp tục bàn thêm, tôi tranh thủ lấy tờ giấy và mượn cây bút của anh Ân để ghi chép những gì Má tôi kể. Nga thấy vậy cười nói, “anh Năm bây  giờ không ghi lại thì không nhớ gì hết!”. Quả đúng thế, tôi nghĩ khi có tuổi, đa số đều thấy những biến đổi tự nhiên về sức khỏe, trí nhớ v.v…)

Và đây là lời kể của Má tôi khi tôi thắc mắc vì sao ông Ba, hoặc con cháu ông Ba (bác Hai Phú, các con cháu của anh) không bao giờ tôi thấy ghé nhà mình. Như tôi nghĩ, hẳn phải có một bất hòa, hiềm khích nào đó đã xảy ra. Từ hôm qua đến hôm nay nhiều lần tôi trở lại đề tài này, và Má tôi dần dần nhớ lại bức tranh quá khứ xám xịt của những ngày trước khi Má tôi về làm dâu nhà Bà Nội tôi, tức nhà hương hỏa nơi mảnh đất hiện có nhà Má tôi, Anh Giang, Thạnh, Anh Ân, Bác Sáu, chị Hương, anh Hiển và anh Thành (con cô Năm tôi).

Ông Năm Trần Hữu Vị (ba bác Ba Nghĩa) dường như đóng vai trò chủ chốt trong vụ việc nhiều sóng gió này theo lời kể của Má tôi. Vả lại ngoài những người con gái, lúc đó đã có gia đình và đều ở riêng rồi, thì anh em của Ông tôi còn lại là ba người: ông Ba Trần Văn Chắt, người thứ Sáu Trần Văn Nhạt là ông Nội tôi, rồi đến ông Năm. Má tôi bảo rằng ý muốn của Bà Cóc Đinh Thị Bút của tôi (tức Má của mấy ông tôi) là để mảnh đất này làm đất hương hỏa cho Ông Ba tôi đứng tên. Ông sẽ ở và thờ cúng ông bà về sau này. Chuyện này lại bị sự chống đối của người con giữa là Ông Năm. Do biết tính tình của người anh Cả này (bên phía con trai ông Ba là người cả) là hay bài bạc, ăn chơi, và giao lưu và câu kết với người xấu, nên ông Năm đã ngăn cản quyết liệt. Ông bàn Bà tôi nên mua một miếng đất khác (không có mồ mả tổ tiên) để ông Ba ra sống riêng, còn mảnh đất hương hỏa này thì để con út thứ Sáu là Ông Nội tôi đứng tên và thừa hưởng. Tôi nhớ đã có kể về ông Ba tôi ở một chỗ khác (http://www...) ít nhất là chuyện trở về Sa Đéc tranh giành đất đai nhưng bất thành với những anh em còn lại ở đó, gây hiềm khích và ly cách luôn nhánh thân tộc Sa đéc của Ông tôi với anh em con của Ông Cóc chúng tôi; việc ông liên kết với bọn trộm trâu đường dài (Kampuchia?) đem về đây như là nơi trung chuyển; ông phụ trách làm sạch lý lịch trâu để không còn vết tích trâu trộm (hồ sơ giả) rồi bán lại để hưởng lợi. Và một việc nữa mà tôi sẽ đề cập phần sau của câu chuyện này mới có lẽ là nguyên nhân sâu xa nhất.

Thế là thay vì được hưởng phần đất gia đình này, Ông tôi được dàn xếp để ra miếng đất mới mua sau này mà nay nó nằm cạnh Quốc lộ 1 (Cầu Cái Vồn Lớn). Câu chuyện này hẳn phải xảy ra trước khi Quốc lộ 1 đoạn Vĩnh Long Cần thơ hoàn thành, hay ít ra cây cầu Cái Vồn Lớn (nay đã phá) được xây, vì tôi nhớ có những  chữ viết bằng sơn đen ghi phía dưới cầu này là cầu được xây dựng năm 1924 [sic] (nếu tôi nhớ đúng) [91103: sửa lại, 1928], trong khi giấy tờ chia gia sản của dòng họ Trần viết vào năm 1919. Còn điều nữa mà Má tôi nói (tôi không biết có đúng sự thật không) là mặc dù Ông Ba được cho ở và hưởng hoa lợi trên mảnh đất tại cầu Đúc Cái Vồn, nhưng chưa bao giờ ông được cho đứng tên miếng đất này. Cho mãi sau ngày giải phóng (1975), khi mà Cô Năm tôi, sau khi Bà Nội tôi mất, có đi góp tiền đất những nhà ở trên miếng đất đó, bác (gái) Hai Phú có ghé nhà tôi để nói chuyện với Má tôi về việc để bà thu tiền này. Má tôi khẳng định là Má tôi từ ngày về đây (1950) đến giờ không hề thu đồng nào từ các nhà ở đậu trên đất đó, và rằng việc thu này là việc của Bà Nội tôi, Má tôi hoàn toàn không liên can và không hề biết đến. Sau khi Bà tôi mất thì người thu là Cô Năm tôi (như vừa nói) và Má tôi cũng không biết. Cho nên má tôi đã trả lời là “chị không phải nói với tôi chuyện này”.

Qua câu chuyện tôi đã hình dung lại mọi sự việc đã diễn ra thế nào, nên khi Má tôi kể tiếp câu chuyện kiện tụng tranh giành gia sản, tôi không còn ngạc nhiên nữa. Và sự việc không tới lui của con cháu Ông Ba tôi và gia đình tôi vì lí do nào bây giờ cũng đã quá rõ ràng.

Tôi không biết bác Hai Phú mất năm nào, nhưng mộ Bác chôn ở đất hương hỏa, tức đất mà bà Nội tôi thừa hưởng, mãi đến mấy năm trước đây (4-5 năm gì đó theo như cháu Duy tôi nhớ) con bác là anh Hai Mén đã bốc đem về Tầm Vu nơi còn anh em của anh Hai Mén đang ở. Chính dịp này mà cháu Duy tôi gặp anh, được anh chỉ dẫn đường đến nhà anh ở Vị Thanh. Nếu không có chỉ dẫn này chắc chắn tôi không bao giờ có chuyến đi này.

KIỆN TỤNG CỦA ÔNG BA VỀ GIA SẢN HƯƠNG HỎA

Sau khi Ông Nội tôi mất, (theo giấy tờ ghi là 1937) đã có một vụ thưa kiện. Ông Ba tôi viết một lá đơn gửi lên chính quyền kiện Bà Nội tôi đã cướp đi gia sản của Ông Nội tôi, là đất hương hỏa mà Bà Nội tôi đang ở. Nội dung đơn ông kể rằng Ông Nội tôi, sau khi vợ [lớn, bà Đào Thị Sửu] mất, ông đi đàng điếm ở Cần Thơ, và dắt một cô gái giang hồ không rõ nguồn gốc về làm vợ. Nay ông đã mất nên Ông [Ba] gửi đơn kiện này để Tòa xét giải quyết lấy lại đất hương hỏa này để ông đứng tên thừa hưởng và nuôi bầy cháu (tức anh em Ba tôi) vì chúng còn nhỏ dại. Không may cho Bà tôi là vụ kiện này đã đưa đến quyết định y án của Tòa, xử rằng đất này thuộc quyền của Ông Ba tôi.

Làng Mỹ Thuận của tôi lúc đó là cả huyện Bình Minh hiện nay, thuộc Tổng An Trường (nằm phía Cần Thơ) tỉnh Cần Thơ. Bà tôi có người anh thứ Hai là người có học, làm công chức của chính quyền Tây thời đó, nên kết quả vụ kiện này lập tức ông tôi nắm được ngay. Và chính ông đã chỉ vẽ cách thức để kháng án để Tòa xử lại, vì ông biết rõ em gái ông mới là vợ chính thức, bằng giấy tờ của gia đình này.

Vào khoảng năm 1923 (là năm Ông Nội tôi cưới Bà Nội tôi, tức vợ sau của Ông) gần như không một người dân nào đi làm hôn thú khi lập gia đình. Nhưng riêng Bà tôi thì khác, do có người anh thứ Hai là ông Phan Quang Đán là công chức, biết chuyện, nên nhất nhất mọi chuyện phải đúng thủ tục hành chánh. Chính vì lẽ này mà ở năm 1923 Bà tôi kết hôn có giấy hôn thú hẳn hoi. Ngày nay khi xem lại một bản sao của hôn thú này (bản sao được lập năm 1938) tôi không khỏi chạnh lòng: người đứng ra làm chủ hôn cho Ông Nội tôi là anh cả Ba Chắt! Vì quyền lợi là miếng đất hương hỏa mà sau khi em trai mình chết, ông Ba đã dùng đến chiêu cuối cùng là nhờ pháp luật can thiệp để ông được thừa hưởng gia sản “hương hỏa” này.

Vậy là kế hoạch thảo đơn chống án được lập ra, được hỗ trợ của anh Hai của Bà nội tôi là ông Phan Quang Đán. Theo lời khuyên của ông Hai thì người đứng tên chỉ có thể là con cả là con của Bà Nội lớn, vì lúc đó chỉ người này là con đã thành niên, mà chỉ người thành niên mới có thê đứng đơn kiện đúng theo pháp luật qui định lúc đó. Lúc bấy giờ, con của Bà Nội lớn là Trần Văn Để - tức Bác Ba tôi, đã học xong (trung học Pháp) và đang đi làm tại Châu Đốc. Bác đang cùng gia đình Bác đang sống tại đó. Nội tôi phải đi sang nhà ông anh họ của chồng là Châu Văn Tàu (Xã Tàu) hỏi vay 60 giạ lúa* bán lấy tiền lo cho vụ án này. Bà đi Châu Đốc tìm gặp Bác Ba Để để nói việc nhờ bác đứng đơn kiện. Lạ thay sau khi nghe trình bày đầu đuôi, Bác Ba Để hớn hở nhận lời (Tôi từng nghe chuyện Bác Ba đã hạch sách, làm khó mẹ “ghẻ” của mình là Bà Nội tôi, dù tiền nong cho việc học hành của Bác vẫn do Ông tôi (khi còn sống) và Bà tôi chu cấp, vì Bác đã mồ côi mẹ ruột lẫn cha). Phải chăng đây là đoạn mở đầu cho một mưu sách ngấm ngầm, một chương trình chiếm đoạt tài sản lại từ người mẹ kế mà chỉ có Bác Ba Để mới biết? (tôi chỉ suy luận sau này khi nghe lại các chuyện kể này). Nếu đúng như vậy thì Bà tôi đã tốn công xúc tép nuôi cò!

Với bằng chứng hiển nhiên bằng giấy tờ của chính quyền (hôn thú của Bà, khai sinh của các con của ông là các Bác, Cô, ba tôi và chú tôi), bản án không thể nào khác hơn được là phần thắng thuộc về Bà Nội tôi (đúng ra, về bác Ba Để, vì người đứng tên trên giấy tờ kiện là Bác Ba Để). Trớ trêu thay, do không có giấy tờ với vợ lớn, tức má bác Ba Để, nên về mặt pháp lý, vợ chính, vợ đầu tiên của Ông tôi lại là Bà Nội tôi, chứ không phải là bà Nội lớn (tức Má ruột của Bác Ba Để). Vụ kiện này mặt dù phần thắng là của Bà tôi, nhưng nó cũng nói lên một điều bà không lường trước, nó hiển nhiên công nhận người đứng tên kiện đòi gia sản cho con cái của ông Trần Văn Nhạt lại là Trần Văn Để. Phải chăng Ông đã vui vẻ nhận lời (như đã nói ở đoạn trước) vì đã thấy trước được điều này?

Khi xem xét lại giấy tờ của thời gian này, tôi thấy rõ ràng bản hôn thú được sao ra là để phục vụ cho vụ kiện này, vì chuyện này xảy ra sau khi Ông tôi mất (1934) và trước năm của bản sao này (1938).  Vậy vụ án này phải vào năm 1936 hay 1937.

Sau này tôi có tiếp cận một số tài liệu lưu trữ về các vụ xử án của Pháp trong thời gian này, nhưng không thấy đề cập các án dân sự loại này, có lẽ người Pháp chưa đưa ra bản số hóa tài liệu này, hay không lưu các vụ án loại này, hoặc thất lạc hay vì lý do nào đó không còn nữa. http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/cb327253338/date

VỀ THỪA HƯỞNG GIA SẢN

Đọc “Đất Lành” mới thấm thía cách người phương Đông suy nghĩ về đất đai. Nếu như ông chủ đất Wang Lung  suốt đời chắt chiu tom góp đất đai để dành cho con cháu, thì thế hệ con ông đã không còn nghĩ thế. Với ông có lẽ “bán đất” là điều kinh khủng, cho nên khi về già, và nghe lõm được chuyện hai con mình bàn bạc chuyện bán đất đai, ông không khỏi hụt hẫng! Nhưng đâu phải chỉ ở phương Đông mình: khi đọc lại tiểu thuyết (hay xem phim) Cuốn Theo Chiều Gió, ta cũng thấy người cha mang dòng máu Scotland của Scarlet cũng có suy nghĩ y như thế, nhưng đối với Scarlett thì đó quả là chuyện ngớ ngẫn của ông già!

Nhưng Bác Ba Để tôi, một công chức Tây thập niên 1930, có bằng trung học Tây, lương bỗng đàng hoàng thì không nghĩ thế. Tôi không hiểu so với hoa lợi của miếng đất hương hỏa thì lương bỗng của ông lúc ấy thế nào, nhưng xem mấy giấy bán đất hàng hectar chỉ vài trăm bạc, thì mới thấy được Bác tôi không phải thuộc loại thế hệ con cháu của nông dân Lung hay bố đẻ cô Scarlet trong Cuốn Theo Chiều Gió, vì ông vẫn còn hăng say tìm cách sở hữu đất đai!

Quả vậy, sau khi thắng kiện, và có lẽ cũng do sự xúi giục (tôi không biết có sự xúi giục này không, chỉ kể lại theo lời kể của Má tôi), ông đã bỏ sở làm ở Châu Đốc, cùng vợ con về cất căn nhà gỗ cạnh nhà bà Nội tôi. Bước tiếp theo là ông bắt đầu thực hiện tờ phán quyết của Tòa, vì ông đã chính thức là người hưởng gia sản hương hỏa này! Ông cho người khiêng tủ thờ (một cái tủ cẩn) bàn ghế, chén bát, liễn, tranh v.v. (xem tờ ăn chia để biết gia sản lúc đó là bao lớn!). Nội tôi, phụ nữ góa chồng nôi con nhỏ đang ăn học đều mới trên dướ 10 tuổi, phải ở trong căn nhà gỗ hương hỏa mênh mông không ruột, thiếu thốn trăm bề (Ba tôi phải ở nhà làm ruộng nuôi mẹ, còn các anh em thì đang đi học). (Sau này, sau hòa bình 1975, có lần bác Ba Để về ghé qua nhà Bác Sáu tôi và ông đưa tờ danh thiếp cho Bác Sáu. Báu Sáu nhạt nhẽo tiếp chuyện, và sau khi người  anh bước ra, bác đã xé nát tờ danh thiếp và quẳng đi. Điều này cho thấy Bà tôi đã bị đứa con ghẻ đối xử tệ hại thế nào!)  

Rồi những năm chiến tranh ác liệt ập đến đến (thập niên 1940). Tại làng tôi nhóm tôn giáo nổi lên chiếm cả một vùng rộng lớn của Bình Minh, kéo dài đến tận phà Cần Thơ….

Thuở ấy người có học như Bác Ba Để là rất hiếm hoi, nên trong làng, các lực lượng quân sự nhờ Bác sang Cần Thơ để mua thuốc tây phục vụ cho quân đội nổi loạn này. Vì bác Ba rất giỏi tiếng Pháp nên việc làm này rất phù hợp, mà Tây lại không nghi ngờ gì. Còn Bác tôi lại thấy đây là cơ hội vàng để bác làm ăn! Tin tưởng rằng bên lực lượng quân sự chỉ nhờ mỗi mình làm việc này, Bác tôi tự ý kê thêm giá thuốc để ăn xén tiền của quân đội nhiều lần. Lời ra tiếng vào, khiến phía quân sự nghi ngờ có sự cắt xén đó, nên họ một hôm nhờ một người khác mua mà không cho bác Ba Để hay. Người này đem về những hiệu thuốc ấy với giá hời hơn nhiều so với giá của Bác Ba mua. Phát hiện này cũng giống như bản án tử hình đã tuyên xong cho vợ chồng Bác, vì lúc đó việc giết chóc là chuyện xảy ra hàng ngày và không theo một luật lệ nào cả. Hôm sau họ ùn kéo đến nhà bác Ba Để để bắt và xử lý vụ lường gạt này. Nhưng may mắn thay, một người quen nào đó trong nhóm quân đội này đã lẻn cho Bác hay trong đêm ấy, bảo phải lập tức ngay trong đêm ấy bác kéo cả nhà bỏ đi  Cần Thơ để tránh sự sát hại của nhóm quân đội này. Chính vụ này mà Bác phải bỏ hẳn căn nhà của bác cạnh nhà Nội tôi trong nhiều chục năm. Khi Má tôi về đây (1950), căn nhà bác Ba Để vẫn còn trơ đó dù đã hư hao nhiều vì chỉ là nhà tạm bợ bằng cây gỗ bình thường.

ANH EM LY TÁN

Ông Ba Chắt đã mất trong những  năm loạn lạc này (tôi vẫn chưa tìm ra năm mất.) Nhiều gia đình phải tản cư tránh giặc (bấy giờ là Việt Minh và chính quyền Pháp) về vùng sâu. Gia đình ông Ba do ở gần chợ nên đã bỏ hẳn nhà ở Bình Minh về vùng xa là Xã Mát sống (bác Hai Phú gái và con cái bác). Cùng với những lý do ở trên, và thêm nữa là vì chiến tranh, việc này dẫn đến việc ly tán của con cái Ông Ba tôi và  anh em Ba tôi.

Tôi đã chụp tấm hình lưu niệm với anh Hai Mén và hai con của anh. Những thế hệ của chúng tôi đã xa với những biến cố đã kể ở trên, và không có gì vướng bận (những hiềm khích chẳng hạn). Tất cả đã là quá khứ, đã là lịch sử rồi. Bài viết này không nhằm đào sâu thêm khoảng cách; có chăng chỉ là điều trái ngược lại. Tôi biết điều này cũng khó, nhưng có điều tôi chắc chắn: tiến bộ của khoa học đã làm chúng ta gần nhau, cho dù khoảng cách không gian là thế nào đi nữa. Tôi đã đến nhà anh Hai, nhưng điều nhiều hơn nữa, tôi đã làm rạch ròi thắc mắc trước đây chưa được giải tỏa. Và nhà anh không xa, GPS chỉ tọa độ nhà anh tại 9 46 44.83E,105 28 19.60N, phía sau Ao Sen Vị Thanh.

Vì mục đích cuối cùng vẫn là gia phả, nên xin ghi lại gia phả của ông Ba Chắt như sau:

 

English