5 loại "siêu quả" mới làm nức lòng giới dinh dưỡng...

Primary tabs

Error message

Notice: Undefined index: localized_options in menu_navigation_links() (line 1872 of /home2/seaminhh/public_html/includes/menu.inc).

Cái tựa của một bài báo xuất hiện đã hơn 2 năm, nhưng tình cờ tôi mới đọc được, thành thử với tôi nó cũng như bài mới.

Sau khi đọc tài liệu này, tôi thấy ít nhất quê mình cũng đã có 3 loại: đó là quả Pichuberry (thù lù), gấc, và lêkima. Gấc là cây chứa rất nhiều chất dinh dưỡng quí giá là điều tôi đã nghe nói; lê ki ma thì tôi đã ăn từ ngày còn nhỏ, do gia đình tôi có đến mấy cây, và là nguồn thu nhập đáng kể của mẹ tôi dùng chạy gạo cho đàn con nhỏ (cùng với vườn cam sau vườn). Riêng quả Pichuberry ngay khi nhìn hình trong bài báo thì tôi đã nghĩ ngay đến cây thù lù mà tử nhỏ đến lớn tôi từng nghe nói, đã từng thấy, thậm chí đã từng ăn trái chín của cây này!

Tôi liền tra lại xem có tài liệu nào nói rõ hơn giống cây mà tôi thường thấy trước đây có phải chính là cây (hay quả) Pichuberry mà tài liệu này nói không. Tra chung tên thù lù ở google tôi được biết nó có tên khoa học là  Physalis angulata L. Còn khi tra trang web giới thiệu loài cây cây "siêu qủa" này tại http://www.pichuberry.com, tôi có được tên khoa học của nó là Physalis Peruviana. Rõ ràng là nó chung họ rồi, và nếu khác với cây nêu tên trong bài thì chỉ ở tên loài mà thôi! Vì tôi nghe nhiều người nói thù lù được nhiều người dùng như vị thuốc nam (điển hình là một người quen tôi biết dùng nhiều nước sắc từ cây thù lù phơi khô), nên tôi hi vọng trong cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất Lợi có thể có mô tả chăng. Nhưng khi kiểm tra thì không thấy nói đến cây này. Tôi quay sang tìm ở một tài liệu của bậc thầy thực vật của Việt Nam (và thế giới), đó là tài liệu của giáo sư Phạm Hoàng Hộ, người đã cho biết tổng số thực vật có tại Việt Nam (khoảng 12.000 loài)1 khi ông có điều kiện nghiên cứu cả thực vật miền Bắc Việt Nam để soạn thành bộ sách hoàn chỉnh thực vật Việt Nam với cuốn Cây cỏ Việt Nam (tác gỉa hoàn thành phần cây cỏ miền Nam trước do lúc đó chỉ có điều kiện nghiên cứu tại miền Nam, và tên tiền thân của cuốn sách là cuốn Cây cỏ miền Nam). May quá, ông nêu ít nhất có đến 4, 5 loài thuộc họ Physalis hiện hữu trên đất nước Việt Nam. Đó là cây thù lù có lẽ tôi gặp và biết từ bé, tức loài Physalys angulata L., nhưng cũng có cả loài thù lù Trung Mỹ Physalis peruviana, và ông nêu rõ loài này có tại vùng cao nguyên Lâm Viên của Việt Nam. Các cây chung họ thù lù, nhưng khác loài, được đánh số từ 7062 đến 7066. Ông cũng nêu ra có ý kiến của một tác giả khác nghi loài số 7062 và 7063 có thể chỉ là một loài.

Lưu ý một điều là tác giả ghi cây số 7063, là loài thù lù có tên khoa học là Physalis minima L.  có dược tính được mô tả hết sức ngắn như sau, “Trị xáotrộn hoạtđộng của lá-lách; bổ; lợitiểu. Chứa phisalin D chống ungthư.” Vì không có tài liệu nào nói rõ loài thù lù tôi biết Physalis angulata L. có hàm lượng dinh dưỡng ra sao, nhưng từ các đặc tính chung, tôi rất tin tưởng là nó cũng giàu các chất dinh dưỡng như loài Physalis peruviana vậy!

---------------------

1. Trong lời tựa cuốn Cây cỏ Việt Nam ông viết,
“Thựcvậtchúng Việtnam có lẽ gồm vào khoảng 12.000 loài. Đó là chỉ kể các cây có mạch, chứ không kể các Rong, Rêu, Nấm.
Nước ta có một trong những thựcvậtchúng phongphú nhất thếgiới. Pháp chỉ có khoảng 4.800 loài, ÂuChâu 11.000 loài, Ấnđộ, theo Hooker, có khoảng 12-14.000 loài. Với một diệntích to hơn nước ta đến ba mươi lần, Canada chỉ có khoảng 4.500 loài, kể cả loài dunhập. Cả Bắc-Mỹ, rộng hơn nước ta gần 65 lần, chỉ có hơn 14.000 loài một ít mà thôi. Áchâu, một lụcđịa 23 lần rộng hơn ta, chứa khoảng 14.500 loài. Gần ta, chỉ có Malaysia và Indonesia nhập lại, rộng bằng 6 lần nước ta, mới có số loài cao hơn: số loài phỏngđịnh vào 25.000 (nhưng hiện biết chỉ vào 5.000).”


Và nếu ta xem hết các loài được ông mô tả trong bộ sách đồ sộ của ông, ông đã mô tả đến 11.608 loài (chưa kể phần bổ sung thêm). Rõ ràng nêu ra con số 12.000 loài cũng có nghĩa ông tự tin mình đã mô tả gần hết thực vật của Việt Nam!

Undefined